Bản tin thuế tháng 4 năm 2019

Bản tin thuế tháng 4 năm 2019

BẢN TIN THUẾ THÁNG 4 NĂM 2019
Kính gửi: Quý Khách hàng !
 DONG BAC Consulting gửi quý khách hàng bản tin thuế tháng 4/2019 với các nội dung sau: 

A. NGHỊ ĐỊNH

 

I. Nghị định số 20/2019/NĐ-CP về lệ phí trước bạ
Ngày 21/2/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2019/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP quy định về Lệ phí trước bạ. Một số nội dung cơ bản của Nghị định 20/2019 như sau:
- Bổ sung quy định về giá tính lệ phí trước bạ đối với đất trong trường hợp được Nhà nước cho thuê đất mà người thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê, trong trường hợp thời hạn thuê nhỏ hơn thời hạn của loại đất quy định tại Bảng giá đất của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ ban hành, cụ thể:
Giá đất của thời hạn thuê đất tính lệ phí trước bạ = giá đất tại bảng giá đất nhân với (x) Thời hạn thuê đất, chia cho (:) 70 năm.
- Sửa đổi, bổ sung các quy định chi tiết hơn về xác định giá tính lệ phí trước bạ đối với các tài sản là ô tô, xe máy.
Trường hợp phát sinh loại ô tô, xe máy mới chưa có trong bảng giá tính lệ phí trước bạ, hoặc giá chuyển nhượng ô tô, xe máy đã có trong bảng giá trên thị trường tăng hoặc giảm 5% trở lên so với bảng giá (trước đây là 20%) thì Cục thuế tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính trước ngày mùng 5 tháng cuối quý.
- Điều chỉnh mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô vừa chở người, vừa chở hàng có khối lượng chuyên trở nhỏ hơn 1.500kg và có từ 5 chỗ ngồi trở xuống: bằng 60% mức thu lệ phí trước bạ lần đầu của ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trước là 2%).
Nghị định 20/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2019.
 

B. VĂN BẢN HƯỚNG DẪN
  1. THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1. Công văn số 581/TCT-DNL ngày 25/02/2019 về chính sách thuế GTGT
Trường hợp Tổng công ty điện lực Thành phố Hà Nội nhận tiền từ Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển công nghệ MEFRIMEX để thực hiện dịch vụ di chuyển tuyến đường dây 110kv ra khỏi mặt bằng khu du lịch sinh thái Đông Anh - Hà Nội theo đề nghị của Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển công nghệ MEFRIMEX và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì Tổng công ty điện lực Thành phố Hà Nội phải xuất hóa đơn GTGT cho Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển công nghệ MEFRIMEX theo quy định.
 
2. Công văn số 605/TCT-CS ngày 26/02/2019 về thuế TNDN của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường
Các dịch vụ khám bệnh, xét nghiệm, đào tạo trong lĩnh vực chuyên ngành theo quy định của pháp luật thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Trường hợp Viện sức khỏe nghề nghiệp và môi trường là đơn vị sự nghiệp công lập nếu xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai, nộp thuế TNDN tính theo tỷ lệ 2% trên doanh thu nhận được từ dịch vụ y tế.
 
3. Công văn số 636/TCT-DNL ngày 28/02/2019 về việc kê khai, nộp thuế GTGT đối với hoạt động chạy thử của nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4
Trường hợp Tập đoàn Điện lực Việt Nam tháng 7/2017 có phát sinh sản lượng điện chạy thử phát lên lưới điện quốc gia nhưng chưa thực hiện việc kê khai, nộp thuế GTGT đối với sản lượng điện chạy thử này mà đến tháng 9/2018 mới tạm kê khai và nộp thuế GTGT đối với sản lượng điện chạy thử do đang chờ các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thì không thuộc trường hợp được đề nghị miễn tiền chậm nộp tiền thuế. Đề nghị Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện theo Thông báo số 13637/TB-07/QLN của Cục thuế tỉnh Bánh Thuận.
Trường hợp Tập đoàn cho rằng Thông báo số 13637/TB-07/QLN của Cụm Thuế tỉnh Bình Thuận chưa phù hợp quy định của pháp luật và tình hình thực tế của đơn vị, đề nghị Tập đoàn thực hiện trình tự, thủ tục khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại.
4. Công văn số 718/TCT-DNL ngày 05/03/2019 về việc thực hiện kê khai điều chỉnh thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm Note 7 bị trả lại
Trường hợp số sản phẩm Note 7 bị lỗi, hàng thuộc trách nhiệm của nhà sản xuất mà SEVT-S đã thu hồi và bồi hoàn cho người dùng cuối là khách hàng cá nhân theo chương trình thu hồi sản phẩm Note 7 của SEVT và đã đủ điều kiện được phép điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu ra theo hướng dẫn tại công văn số 2986/TCT-DNL ngày 07/7/2017 của Tổng cục Thuế, SEVT-S thực hiện xuất 01 hóa đơn làm căn cứ để điều chỉnh giảm số thuế GTGT thầu ra của số sản phẩm Note 7 nêu trên vào kỳ tính thuế SEVT-S lập hóa đơn điều chỉnh. Số thuế GTGT đầu ra được phép điều chỉnh giảm của số sản phẩm Note 7 mã thu hồi không được vượt quá số thuế GTGT đầu ra xác định tại thời điểm SEVT-S bán sản phẩm Note 7 cho nhà phân phối, đại lý.
Hóa đơn điều chỉnh phải thể hiện được các thông tin sau đây: loại sản phẩm, số lượng, đơn giá sản phẩm bị trả lại theo giá chưa có thuế GTGT (là giá sản phẩm Note 7 chưa có thuế GTGT tại thời điểm SEVT-S bán cho nhà phân phối, đại lý), tổng giá trị sản phẩm bị trả lại, tổng số tiền thuế GTGT tương ứng, trên hóa đơn ghi rõ sản phẩm thu hồi từ các khách hàng gián tiếp là cá nhân theo chương trình thu hồi sản phẩm Note 7 của SEVT.
5. Công văn số 748/TCT-CS ngày 07/03/2019 về thuế GTGT
Trường hợp dự án nhà máy sản xuất đá ốp lát thạch anh nhân tạo cao cấp của Công ty Cổ phần Casablanca Việt Nam có sử dụng một phần nguyên liệu để sản xuất là tài nguyên khoáng sản có nguồn gốc trong nước, còn lại sử dụng nguyên liệu tài nguyên khoáng sản có nguồn gốc nhập khẩu thì việc xác định tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/03/2018 của Bộ Tài chính nêu trên. Trong đó, trị giá tài nguyên, khoáng sản để xác định tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm là tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc trong nước (không bao gồm tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc nhập khẩu).
 
6. Công văn số 798/TCT-CS ngày 13/3/2019 về việc khấu trừ thuế GTGT
Trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở nhiều tầng để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê thì không thuộc đối tượng áp dụng tại Điều 6 Thông tư số 76/2014/TT-BTC nêu trên.
Trường hợp được Nhà nước giao đất để đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng nhà để bán, giá đất được trừ để tính thuế GTGT bao gồm tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước (không kể tiền sử dụng đất được miễn, giảm) và chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định pháp luật.
Thông tư số 139/2016/TT-BTC ngày 16/9/2016 của Bộ Tài chính có hướng dẫn hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp khi thực hiện dự án đầu tư khác) của Chủ đầu tư phải nộp cho Nhà nước trong trường hợp Chủ đầu tư này đã nộp tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất được xây dựng nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP.
Trường hợp Công ty TNHH Đầu tư xây dựng và XNK Tây Đô được ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội giao đất để thực hiện dự án Tòa nhà hỗn hợp văn phòng, dịch vụ thương mại, khách sạn và nhà ở thì đề nghị Cục Thuế thành phố Hà Nội phối hợp với Sở Tài chính thành phố Hà Nội và các đơn vị có liên quan để xác định khoản tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về đất đai để làm căn cứ để xác định giá đất được trừ khi tính thuế GTGT theo quy định hiện hành.
7. Công văn số 799/TCT-CS ngày 13/3/2019 về chính sách thuế GTGT
Tại công văn số 2213/TCLN-KHTC ngày 11/12/2018, Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có ý kiến như sau:
“Hoạt động cuốc lật đất bằng máy để chuẩn bị cho công tác trồng rừng sản xuất là hoạt động cày, bừa đất”;
Căn cứ quy định, hướng dẫn nêu trên và ý kiến của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, dịch vụ cuốc lật đất bằng máy để phục vụ trồng rừng là hoạt động cày, bừa đất, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
        II. THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1. Công văn số 855/TCT-HTQT ngày 15/03/2019 về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với cá nhân (bao gồm Trưởng đại diện và nhân viên người nước ngoài) làm việc ở Văn phòng đại diện tại Việt Nam
Thu nhập của cá nhân người nước ngoài từ công việc làm công tại Văn phòng đại diện sẽ chỉ chịu thuế TNCN tại nước ngoài (được miễn thuế TNCN tại Việt Nam) nếu cả 3 điều kiện a, b và c nêu trên đồng thời được thỏa mãn.
- Đối với điều kiện (a): nếu cá nhân là người nước ngoài có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai đoạn 12 tháng bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tính thuế sẽ thỏa mãn điều kiện này.
- Đối với điều kiện (b): Đối với trường hợp cá nhân ký hợp đồng lao động trực tiếp với Công ty mẹ tại nước ngoài và được công ty nước ngoài bổ nhiệm làm việc tại Việt Nam, cá nhân phải thực hiện các công việc phục vụ cho hoạt động của VPĐD. VPĐD phải chịu trách nhiệm, chịu rủi ro đối với công việc của các cá nhân trong quá trình hoạt động, có quyền đối với sản phẩm và dịch vụ do cá nhân tạo ra, chịu trách nhiệm phương tiện làm việc, về địa điểm làm việc và tiền công tiền lương của cá nhân có do Văn phòng tại Việt Nam chi trả. Do đó, Văn phòng đại diện được coi là chủ lao động thực sự của cá nhân nêu trên.
- Đối với điều kiện (c): Trường hợp VPĐD tham gia thực hiện các hoạt động trong chuỗi kinh doanh của Công ty nước ngoài. Các hoạt động không còn mang tính chất chuẩn bị và phụ trợ mà là các hoạt động góp phần tạo ra lợi nhuận cho Công ty nước ngoài như đám phán, ký kết hợp đồng, tiếp thị, quảng cáo, hỗ trợ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ, hậu mãi... Trong những trường hợp này, Công ty nước ngoài đã hình thành cơ sở thường trú (CSTT) tại Việt Nam thực hiện toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh, do đó, cá nhân làm việc cho VPĐD như vậy sẽ không thỏa mãn được điều kiện (c) nêu trên.
Nếu cả 3 điều kiện nêu trên đồng thời không được thỏa mãn, cá nhân phải kê khai và nộp thuế TNCN tại Việt Nam theo qui định của Luật thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn hiện hành.
 
III. THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
 
1. Công văn số 566/TCT-DNL ngày 22/02/2019 về khấu hao tài sản cố định (TSCĐ)
Trường hợp Cảng Đà Nẵng có TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu, đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành. Việc trích khấu hao TSCĐ được căn cứ từ ngày Cảng Đà Nẵng thực hiện ghi sổ hạch toán tăng TSCĐ theo quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.
 
2. Công văn số 582/TCT-HTQT ngày 25/02/2019 về việc áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Thái Lan
Hoạt động kinh doanh của Bên vận hành (CHR) được thực hiện tại Khách sạn trong 10 năm bắt đầu từ ngày hiệu lực (27/8/2012) và sẽ được tự động gia hạn 10 năm hoạt động.
          Theo đó, các hoạt động của Bên vận hành (CHR) và đại diện của mình tại Khách sạn đã tạo nên cơ sở thường trú của Bên vận hành (CHR) tại Việt Nam.
Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 12 của Hiệp định nêu trên, trường hợp Bên vận hành (CHR) có nhận được thu nhập từ việc sử dụng “Thương hiệu” để thực hiện công việc kinh doanh của mình, đây là khoản thu nhập có tính chất bản quyền và có thể bị đánh thuế tại Việt Nạm với mức thuế suất không vượt quá 15% trên tổng số tiền bản quyền được trả.
Căn cứ các quy định tại Khoản 2, Điều 12 của Hiệp định và Điểm 2.a), Mục 3, Chương II, Thông tư số 60/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính (và hiện nay là Điểm 2.a), Điều 13, Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014), thu nhập từ tiền bản quyền Bên vận hành (CHR) thu được từ việc thực hiện Hợp đồng quản lý với Chủ sở hữu (Công ty BTNN) sẽ phải chịu thuế TNDN tại Việt Nam theo tỷ lệ 10% trên doanh thu tính thuế.
Căn cứ hướng dẫn tại khoản b.1), điểm 2, Điều 13, mục 3, Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính, trường hợp trong Hợp đồng quản lý, Bên vận hành (CHR) thực hiện quản lý và vận hành Khách sạn do Công ty BTNN là chủ sở hữu; đồng thời sử dụng “Thương hiệu” trong quá trình vận hành Khách sạn và thực hiện nộp thuế TNDN theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu thì việc áp dụng tỷ lệ thuế TNDN được căn cứ vào doanh thu tính thuế đối với từng hoạt động kinh doanh nêu trên. Trường hợp Bên vận hành (CHR) không tách riêng được giá trị từng hoạt động kinh doanh thì áp dụng tỷ lệ thuế TNDN đối với ngành nghề kinh doanh có tỷ lệ thuế TNDN cao nhất.
 
3. Công văn số 637/TCT-DNL ngày 28/02/2019 về việc xác định hưởng ưu đãi thuế TNDN đối với khoản tiền bồi hoàn nhận được
Theo trình bày của Công ty tại công văn số 07/2018/NTF/TCKT ngày 17/12/2018 và hợp đồng ký kết với Công ty SIG Combibloc Ltd.,: Công ty mua nguyên liệu bao bì để sử dụng cho hệ thống máy móc, thiết bị mua từ SIG Combibloc Ltd và nhận khoản bồi hoàn tiền mua máy móc, thiết bị khi đáp ứng điều kiện về sản lượng tiêu thụ, thì khoản bồi hoàn này được tính hưởng ưu đãi thuế TNDN nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
 
IV. HOÁ ĐƠN
 
1. Công văn số 812/TCT-DNL ngày 13/03/2019 về ngày lập và ký duyệt trên hóa đơn điện tử theo Thông tư số 32/2011/TT-BTC
Theo trình bày của Công ty xi măng Nghi Sơn thì đối với hoạt động bán hàng tại Công ty xi măng Nghi Sơn thông thường ngày lập và ngày ký trên hóa đơn điện tử sẽ cùng ngày. Ngày lập hóa đơn điện tử Công ty đã thực hiện đúng theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 16 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, do hoạt động bán hàng được thực hiện trong cả 3 ca liên tục cả ngày đêm trên phần mềm in hóa đơn điện tử của VNPT, nên sẽ có tình trạng một số ít hóa đơn có ngày phê duyệt sau ngày lập hóa đơn, do khi lập hóa đơn điện tử và gửi cho người mua vào trước 24h của ngày hôm trước, người mua thực hiện ký điện tử trên hóa đơn điện tử nhận được và gửi cho người bán hóa đơn điện tử có đủ chữ ký điện tử của người mua và người bán thông qua hệ thống của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử vào sau 00h rơi vào ngày hôm sau.
Căn cứ vào qui định của pháp luật về khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử nêu trên và mô hình hoạt động bán hàng của Công ty xi măng Nghi Sơn trong quá trình sản xuất kinh doanh và kê khai thuế, Tổng cục Thuế đồng ý với đề xuất của Công ty xi măng Nghi Sơn căn cứ ngày lập trên hóa đơn điện tử là ngày xác định nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và hạch toán theo quy định.
 
2. Công văn số 939/TCT-DNL ngày 20/03/2019 về việc hướng dẫn thực hiện hóa đơn điện tử
Trong giai đoạn từ ngày 01/11/2018 đến ngày 31/10/2020, doanh nghiệp được phép sử dụng HĐĐT theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn.
Công ty Saigonpetro và các đơn vị thành viên (ứng với 1 mã số thuế) có thể đăng ký sử dụng 2 ký hiệu hoá đơn trong một mẫu hoá đơn GTGT theo hướng dẫn tại điểm 1.2, 1.3 Phụ lục 1 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính đảm bảo nguyên tắc số hoá đơn điện tử liên tục theo trình tự thời gian, cụ thể: 1 ký hiệu hoá đơn sử dụng trong trường hợp bán hàng hoá lập và giao hoá đơn ngay; 1 ký hiệu hoá đơn sử dụng trong các trường hợp bán hàng thông qua các chi nhánh và bán hàng giao tại kho, bồn chứa của khách hàng mà cuối tháng Công ty và khách hàng, các bên liên quan phải thực hiện đối soát sản lượng hàng bán.
Công ty Saigonpetro và các đơn vị thành viên thực hiện tính, khai thuế GTGT tại thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền theo quy định.
Trường hợp người mua không phải là đơn vị kế toán hoặc là đơn vị kế toán nếu có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa Công ty hoặc các đơn vị thành viên với người mua như: hợp đồng kinh tế phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng hóa, biên nhận thanh toán, phiếu thu,… thì Công ty hoặc các đơn vị thành viên lập hóa đơn điện tử cho người mua theo quy định, trên hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua.
Hiện nay, Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) đang xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/09/2018 của Chính phủ bao gồm định dạng chuẩn dữ liệu của hóa đơn điện tử. Khi các văn bản triển khai HĐĐT theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP nêu trên có hiệu lực thi hành, đề nghị Công ty thực hiện HĐĐT theo các văn bản hướng dẫn thi hành.
 
V. THUẾ TÀI NGUYÊN, TIỀN THUÊ ĐẤT
 
1. Công văn số 634/TCT-CS ngày 27/02/2019 về chi phí tiền thuê đất do điều chỉnh giá thuê từ 2006-2016
Trường hợp doanh nghiệp có phát sinh số tiền thuê đất phải nộp trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 (bao gồm trường hợp đã thanh tra và chưa thanh tra) do điều chỉnh lại đơn giá thuê đất trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016 theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định 135/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNDN theo nguyên tắc phân bổ cho từng kỳ tính thuế trong thời gian thuê đất còn lại kể từ năm 2017.
Doanh nghiệp không được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với khoản tiền chậm nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.
2. Công văn số 693/TCT-CS ngày 04/03/2019 về việc giải đáp chính sách tiền thuê đất
Trường hợp Bến xe khách thành phố Tuyên Quang là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên thì phải chuyển sang thuê đất và nộp tiền thuê đất kể từ ngày 01/7/2014 (thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành) và là đối tượng thuộc trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất khi chuyển sang thuê đất mà sử dụng đất vào mục đích xây dựng công trình sự nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai thì được miễn tiền thuê đất cho cả thời gian thuê. Trường hợp đơn vị nộp đủ hồ sơ hợp lệ miễn tiền thuê đất trước ngày 01/07/2017 thì được miễn tiền thuê đất tính từ ngày phải chuyển sang thuê đất theo quy định; Trường hợp đơn vị nộp đủ hồ sơ hợp lệ miễn tiền thuê đất từ ngày 01/07/2017 trở đi thì chỉ được miễn tiền thuê đất cho thời gian còn lại, đơn vị phải nộp tiền thuê đất từ thời điểm phải chuyển sang thuê đất đến thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng các công trình sự nghiệp thuộc các ngành và lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường ngoại giao và các công trình sự nghiệp khác.
3. Công văn số 891/TCT-CS ngày 18/3/2019 về chính sách thu thuế đất
Luật đất đai năm 2013 chỉ có quy định về không thu nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất đối với trường hợp xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo số liệu đo đạc thực tế mà có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp nhưng ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề. Việc áp dụng Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai 2013 đối với nghĩa vụ về tiền thuê đất là không đúng về căn cứ pháp lý.
Đối với trường hợp của Công ty cổ phần Trung Hưng, theo báo cáo của Công ty, đối với phần diện tích nằm trong ranh giới thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp Giấy chứng nhận, diện tích thực tế tăng 2.904m2 so với diện tích ghi trong Giấy chứng nhận là do sai sót khi đo vẽ và do khi giao đất có sự chênh lệch giữa bản đồ đo vẽ và mốc ranh giới thực địa. Vì vậy, đề nghị Cục Thuế tỉnh Phú Thọ báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ giao Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát lại ranh giới thửa đất đang sử dụng có sự thay đổi so với ranh giới thửa đất theo Giấy chứng nhận không để làm áp dụng quy định cho phù hợp.
4. Công văn số 997/TCT-CS ngày 25/3/2019 về việc giải đáp chính sách tiền thuê đất
Trường hợp Công ty cổ phần năng lượng Hà Tiên được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định cho thuê đất theo Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 để thực hiện Dự án Nhà máy chế biến gỗ và Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học rắn và được điều chỉnh hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đất theo Quyết định số 2017/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 (thời điểm Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành) và Dự án Nhà máy chế biến gỗ và Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học rắn của Công ty cổ phần năng lượng Hà Tiên có thuộc đối tượng được ưu đãi theo quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của Chính phủ hay không, đề nghị Cục Thuế tỉnh Bình Định có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư có hướng dẫn, vì quy định tại Điều 6 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP chưa rõ mức giá ưu đãi áp dụng chung cho các Dự án hay áp dụng cho từng dự án, có áp dụng cho trường hợp thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê và cơ quan nào là cơ quan trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt giá này.
 
VI. QUẢN LÝ THUẾ
 
1. Công văn số 569/TCT-KK ngày 22/02/2019 về việc xử lý hoàn trả số tiền thu hồi hoàn nộp thừa
Trường hợp Chi nhánh Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex tại Buôn Ma Thuột (Chi nhánh Công ty) đã nộp số tiền 1.003.948.992 đồng vào tài khoản thu hồi hoàn thuế GTGT tại Kho bạc Nhà nước (Tài khoản 8993) vào ngày 14/03/2018, sau đó Cục Thuế tỉnh Đăk Lăk đã có Quyết định số 2659/QĐ-XPVPHC ngày 30/12/2018 về việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, trong đó truy thu số tiền thuế GTGT Chi nhánh Công ty đã được hoàn số tiền 75.210.730 đồng, dẫn đến phát sinh khoản tiền thuế GTGT nộp thừa là 928.738.262 đồng thì Cục Thuế tỉnh Đăk Lăk giải quyết hồ sơ hoàn thuế theo quy định tại Điều 33, Điều 59 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.
2. Công văn số 684/TCT-QLN ngày 04/03/2019 về việc cưỡng chế nợ thuế
Công ty cổ phần NIVL chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiên chậm nộp quá 90 ngày thì cơ quan thuế sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật Quản lý thuế để thu hồi các khoản nợ đọng vào ngân sách nhà nước, không có căn cứ, cơ sở pháp lý để dừng thực hiện biện pháp cưỡng chế thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như kiến nghị của Công ty cổ phần NIVL.
3. Công văn số 803/TCT-CS ngày 13/03/2019 về chính sách thuế
Căn cứ Điều 1 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp và khoản 1 Điều 3 Thông tư số 133/201 6/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tổng cục Thuế thống nhất với đề xuất xử lý của Cục Thuế TP Hà Nội nêu tại công văn số 74970/CT-TTHT nêu trên: Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể được lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC nhưng phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp và phải thực hiện nhất quán trong năm tài chính. Tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC và Thông tư số 133/2016/TT-BTC nêu trên không quy định thời hạn thông báo với cơ quan thuế, do đó trường hợp doanh nghiệp thông báo chậm hoặc chưa thông báo với cơ quan thuế khi áp dụng chế độ kể toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, cơ quan thuế chưa có cơ sở để không chấp nhận việc áp dụng chế độ kế toán của doanh nghiệp.
Trường hợp có căn cứ xác định doanh nghiệp có hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán, cơ quan thuế quản lý trực tiếp chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử phạt theo quy định.
4. Công văn số 811/TCT-DNL ngày 13/03/2019 về việc trích lập dự phòng khoản tổn thất đã trở thành khoản nợ khó đòi
Mặc dù ngày 15/11/2018 Toà án nhân dân tỉnh Nam Định đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự số 68/2018/TLST-HS ngày 26/10/2018 và có bản án số 89/2018/HS-ST đối với các bị cáo trong vụ án, trong đó có bị cáo Ngô Trường Giang làm thất thoát 20.746.282.257 đồng. Đây là số tiền Công ty CPĐS Hà Ninh phải thu của ông Giang và là số tiền ông Giang có nghĩa vụ phải trả cho Công ty CPĐS Hà Ninh. Tuy nhiên, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật (ngày 30/11/2018 Toà án nhân dân tỉnh Nam Định có Thông báo số 39/2018/TB-TA về việc kháng cáo).
Theo quy định tại Bộ Luật tố tụng Dân sự thì bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành.
Như vậy, với thông tin, hồ sơ gửi đến việc Công ty CPĐS Hà Ninh đề nghị thực hiện trích lập dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi trên cơ sở phán quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm khi án chưa có hiệu lực pháp luật là chưa đủ cơ sở pháp lý để xác nhận đây là khoản nợ phải thu khó đòi của Công ty CPĐS Hà Ninh theo quy định.
5. Công văn số 893/TCT-CS ngày 18/3/2019 về hóa đơn, chính sách thuế khoản thu duy tu hạ tầng khu nông nghiệp công nghệ cao
Kể từ ngày 1/1/2017 khoản thu tiền duy tu, tái tạo cơ sở hạ tầng từ các doanh nghiệp trong KCN, KCX không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội XIII mà chuyển sang cơ chế giá theo quy định pháp luật và thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật thuế.
Do đó, kể từ ngày 01/01/2017, khi phát sinh khoản thu duy tu, bảo dưỡng hạ tầng, Trung tâm Khai thác hạ tầng (Ban Quản lý Khu nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM) sử dụng hóa đơn, thực hiện tính, kê khai, nộp thuế GTGT và thuế TNDN theo quy định pháp luật.
6. Công văn số 896/TCT-CS ngày 18/03/2019 về việc áp dụng ưu đãi thuế đối với dự án đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy định cụ thể các trường hợp được chuyển tiếp ưu đãi, không có quy định trường hợp chuyển tiếp ưu đãi đối với các dự án đã thực hiện trước 01/01/2015 thuộc lĩnh vực ưu đãi mới được bổ sung tại Luật số 71/2014/QH13 miễn thuế đối với thu nhập từ chế biến nông sản tại địa bàn khuyến khích đầu tư; ưu đãi cho dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; dự án có quy mô đầu tư tối thiểu 12.000 tỷ đồng; ưu đãi cho thu nhập của doanh nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, chế biến không thuộc địa bàn khuyến khích đầu tư). Do vậy, đối với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại khu công nghiệp trong giai đoạn 2009 - 2013 thì không thuộc đối tượng được chuyển tiếp hưởng ưu đãi theo diện điều kiện sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho thời gian còn lại.
7. Công văn số 903/TCT-CS ngày 18/03/2019 về chính sách thuế nhà thầu
Theo báo cáo của Cục Thuế tỉnh Bắc Giang tại công văn số 4954/CT-Tr thì theo hợp đồng giao gia công, các Công ty giao gia công (Công ty Arion Technology, Công ty Handan - Hàn Quốc) chuyển tiền phí bản quyền cho Công ty TNHH Lian Tech để trả hộ cho các Công ty sở hữu bản quyền ở nước ngoài (Công ty Lian Arion - Trung Quốc, Công ty HRC, Công ty Zigo - Cộng hòa Seychelles) và không nằm trong đơn giá gia công nên đây chỉ là khoản thu hộ, chi hộ của Công ty TNHH Lian Tech; Giữa các công ty sở hữu bản quyền ở nước ngoài và Công Lian Tech không có bất kỳ hợp đồng nào liên quan đến việc cung cấp bản quyền để sản xuất sản phẩm đầu thu kỹ thuật số; Công ty TNHH Lian Tech chỉ là bên nhận gia công hàng hóa (lắp ráp, gia công đầu thu kỹ thuật số) và nhận tiền công gia công theo hợp đồng gia công.
Đề nghị Cục Thuế tỉnh Bắc Giang kiểm tra cụ thể hợp đồng, hồ sơ, chứng từ, sổ sách kế toán để xác định: Nếu khoản thu nhập mà các công ty sở hữu bản quyền ở nước ngoài nhận được là phát sinh tại Hàn Quốc thì các công ty sở hữu bản quyền ở nước ngoài không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư số 103/2014/TT-BTC; nếu khoản thu nhập mà các Công ty sở hữu bản quyền ở nước ngoài nhận được là phát sinh tại Việt Nam thì các công ty sở hữu bản quyền ở nước ngoài thuộc đối tượng của Thông tư số 103/2014/TT-BTC nêu trên.
8. Công văn số 999/TCT-CS ngày 25/03/2019 về việc hướng dẫn chuyển lỗ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp hạch toán kế toán bằng ngoại tệ
Theo trình bày của Cục Thuế tỉnh Quảng Nam tại công văn số 212/CT-KTT1 nêu trên thì Ngân hàng Cathay United Bank - Chi nhánh Chu Lai được Bộ Tài chính cho phép sử dụng đồng đô la Mỹ làm đơn vị tiền tệ trong kế toán và đã quy đổi ra đồng Việt Nam khi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế, khi Công ty thực hiện chuyển lỗ theo quy định thì số lỗ được chuyển là số lỗ tính bằng đồng Việt Nam đã được kê khai trong hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp các năm trước đã nộp cho cơ quan thuế.
 
9. Công văn số 1004/TCT-CS ngày 25/03/2019 về chính sách thuế
Trường hợp Công ty TNHH MTV Nha Khoa Sài Gòn cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh nha khoa thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, số thuế giá từ đầu,vào sử dụng cho dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng không được kê khai, khấu trừ.
Thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu, thu của người tiêu dùng cuối cùng. Trường hợp khách hàng của Công ty TNHH MTV Nha Khoa Sài Gòn đã thanh toán thuế giá trị gia tăng đầu ra thì Công ty thực hiện khai, nộp số thuế GTGT đã thu của khách hàng vào ngân sách nhà nước.
 
10. Công văn số 1017/TCT-CS ngày 25/03/2019 về chứng từ thanh toán hàng hóa xuất khẩu
Trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc và được phía Trung Quốc thanh toán tiền hàng qua ngân hàng, nếu nội dung chứng từ thanh toán thể hiện rõ tên người thanh toán, tên người thụ hưởng, số hợp đồng xuất khẩu, giá trị thanh toán phù hợp với hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết và chứng từ thanh toán phù hợp theo quy định của pháp luật về ngân hàng thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 15 và khoản 3 Điều 16 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 và Thông tư số 173/2016/TT-BTC ngày 28/10/2016 của Bộ Tài chính).
 
11. Công văn số 1047/TCT-DNL ngày 27/03/2019 về chi phí hỗ trợ đối với khoản chi hỗ trợ nhân viên bán hàng
Trường hợp Tổng công ty thực hiện chi hỗ trợ, khuyến khích cho người lao động của Tổng công ty bao gồm người lao động là bán hàng chuyên trách và người lao động khác tham gia bán hàng để thúc đẩy hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của Tổng công ty. Nếu khoản chi này được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thoả ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Tổng công ty; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Tổng công ty thì Tổng công ty được tính khoản chi phí này vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính.
Khoản chi hỗ trợ, khuyến khích bán hàng này của Tổng công ty cho người lao động được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
 
Trên đây là những thông tin cập nhật những văn bản quy phạm pháp luật mới nhất về thuế và kế toán của DONG BAC Consulting, nội dung dưới dạng tóm tắt cho những tình huống chung và không dùng để thay thế lời khuyên cho những tình huống cụ thể phát sinh tại đơn vị.  Xin vui lòng liên hệ với chúng tôi nếu quý Công ty muốn tư vấn thêm về việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật có trong bản cập nhật này để nâng cao chất lượng công tác quản trị doanh nghiệp.

Download

 

Đối tác
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN THUẾ-TÀI CHÍNH ĐÔNG BẮC
Địa chỉ : P 102, tòa nhà DN5B, Khu CC Quang Minh, P.Hoàng Văn Thụ, TP Bắc Giang, Tỉnh Bắc Giang
Điện thoại :02043 601882 / 02043 541 882 -  Fax:  02043 540488
Website: tuvandongbac.com.vn  -   Email: taxdongbac@gmail.com
 

Copyright @ 2008 Dong Bac Consulting